Sau năm 1975, vùng đồn điền cũ ở Phú Riềng được tổ chức lại thành nông trường cao su quốc doanh. Trong khoảng hai thập niên, lực lượng khai hoang gồm công nhân cũ, người đi kinh tế mới, người từ nhiều tỉnh tới lập nghiệp đã khôi phục vườn cây tàn phá và trồng mới trên diện rộng, theo mô hình nông trường, đội sản xuất và khu tập thể.
Mô hình ấy định hình không chỉ vườn cây mà cả cách người dân sống quây quần, tên gọi các khu dân cư, nếp sinh hoạt tập thể và quan hệ láng giềng ở Phú Riềng. Ngày nay nông trường đã thành công ty, nhiều khu tập thể đã thành ấp, nhưng dấu vết vẫn đọc được nếu biết nhìn.
Bối cảnh: vườn cây kiệt quệ và nhu cầu khôi phục
Khi chiến tranh kết thúc, nhiều lô cao su của đồn điền cũ đã già, bị bỏ hoang lâu năm hoặc hư hại nặng. Nhà máy sơ chế xuống cấp, đường lô bị rừng tái sinh lấn, lực lượng công nhân tản mát. Trong khi đó, cao su được xác định là cây công nghiệp chủ lực của miền Đông Nam Bộ, cần khôi phục nhanh để có hàng xuất khẩu, đổi lấy ngoại tệ và vật tư trong những năm đất nước rất thiếu thốn.
Nông trường quốc doanh là lời giải của thời ấy: nhà nước quản lý đất, tổ chức lao động tập trung, cung cấp vật tư, giống và lương thực cho người làm. Ở Phú Riềng, đơn vị cao su được lập trên nền đồn điền cũ, rồi nhanh chóng mở rộng sang các vùng đất xung quanh. Tên gọi của đơn vị qua các thời kỳ có thay đổi, từ nông trường sang xí nghiệp liên hợp rồi công ty, nhưng người dân vẫn gọi chung là “nông trường” hay “công ty” theo thói quen.
Một chi tiết người lớn tuổi hay nhắc là sự thiếu thốn mọi thứ trong những năm đầu: thiếu gạo, thiếu thuốc men, thiếu dụng cụ. Dao cạo, chén hứng mủ đôi khi phải tận dụng đồ cũ của đồn điền. Có lúc lương được trả bằng hiện vật như gạo, đường, vải. Những ký ức ấy giải thích vì sao thế hệ công nhân đầu tiên coi trọng sự tằn tiện và tinh thần đùm bọc đến vậy.
Ai đã đi khai hoang
Lực lượng khai hoang và trồng mới ở Phú Riềng sau 1975 gồm nhiều nguồn. Lớp đầu tiên là công nhân cũ của đồn điền và gia đình họ, những người thông thạo nghề cạo, thuộc đường lô. Lớp thứ hai là người từ các tỉnh đồng bằng phía Bắc, miền Trung vào theo các đợt đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới. Lớp thứ ba là người từ các tỉnh phía Nam, kể cả từ thành phố, lên tìm đất sống trong giai đoạn khó khăn. Bên cạnh đó là đồng bào S'tiêng và các dân tộc khác tại chỗ, có người vào làm công nhân, có người giữ nếp làm rẫy riêng.
Sự pha trộn ấy tạo nên một cộng đồng nhiều giọng nói, nhiều phong tục. Trong cùng một đội sản xuất có thể có người Thái Bình, người Thanh Hoá, người Quảng Ngãi, người Sài Gòn. Con cái họ lớn lên học chung một trường, nói một thứ giọng pha trộn mà người nơi khác nghe là nhận ra ngay giọng vùng cao su Bình Phước cũ.
Công việc khai hoang rất nặng. Ở những vùng rừng tái sinh, người ta phải chặt cây, dọn gốc, đốt thực bì, đào hố trồng bằng tay trên đất cứng. Sốt rét là nỗi ám ảnh của nhiều người trong những năm đầu. Không ít gia đình mất người thân vì bệnh tật, tai nạn lao động. Các câu chuyện này hiếm khi được ghi lại thành sách, mà sống trong lời kể của những người còn lại.
Cách tổ chức: nông trường, đội, tổ
Nông trường quốc doanh được tổ chức theo nhiều tầng. Trên cùng là ban lãnh đạo đơn vị với các phòng kỹ thuật, kế hoạch, lao động, tài vụ. Mỗi nông trường quản lý một vùng đất rộng, chia ra nhiều đội sản xuất; mỗi đội lại chia thành tổ, mỗi tổ gồm một nhóm công nhân phụ trách các lô cây gần nhau. Cách chia này kế thừa phần nào từ đồn điền cũ, nhưng quan hệ giữa các tầng đã khác hẳn.
Đội sản xuất là đơn vị quen thuộc nhất với người công nhân. Đội trưởng phân phần cây, theo dõi chất lượng mặt cạo, chấm công, tổ chức cân mủ hằng ngày. Ngoài sản xuất, đội còn lo đời sống: phân nhà ở trong khu tập thể, tổ chức văn nghệ, thể thao, thăm hỏi khi ốm đau, hiếu hỉ. Với nhiều gia đình, đội vừa là nơi làm việc, vừa là xóm giềng.
Tên đội thường được đánh số hoặc gắn với địa danh. Ngày nay, khi đã thành ấp, thành khu dân cư, nhiều nơi ở Phú Riềng vẫn được người dân gọi bằng tên đội cũ. Người mới đến hỏi đường, nghe chỉ “qua đội mấy rồi rẽ”, đừng ngạc nhiên; đó là lớp địa danh của thời nông trường còn sống trong lời ăn tiếng nói hằng ngày.
Khu tập thể và đời sống chung
Để có chỗ ở cho lực lượng lao động đông, nông trường xây những dãy nhà tập thể, thường là nhà một tầng, tường gạch hoặc ván, mái tôn hoặc ngói, chia thành nhiều gian cho các gia đình. Mỗi khu có giếng nước chung, sân phơi, đôi khi có nhà ăn, nhà trẻ, trạm y tế nhỏ và hội trường. Trẻ con lớn lên giữa những dãy nhà ấy, đi học chung, chơi chung dưới tán cao su.
Đời sống tập thể có hai mặt. Một mặt, nó tạo ra sự gắn bó mạnh mẽ: nhà này có việc thì cả dãy sang giúp, ai ốm đau có người trông con, tối đến cả khu tụ tập xem chung một cái ti vi. Mặt khác, không gian riêng tư rất ít, nhà ở chật chội, tiện nghi thiếu thốn. Khi điều kiện khá lên, nhiều gia đình tách ra làm nhà riêng trên đất được giao hoặc tự mua.
Hiện nay phần lớn khu tập thể nguyên gốc đã được cải tạo, xây mới hoặc chuyển thành khu dân cư bình thường. Một số dãy nhà cũ vẫn còn, mái tôn bạc màu bên mép lô cao su, là chứng tích thầm lặng của một thời. Ai quan tâm đến lịch sử địa phương có thể nhận ra chúng qua kiểu nhà thấp, liền dãy, cửa trổ đều nhau, khác hẳn những căn nhà phố mới xây ven đường.
Từ nông trường sang công ty: những thay đổi lớn
Từ cuối thập niên 1980, cùng với đổi mới kinh tế, các nông trường quốc doanh dần chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh. Công nhân được giao khoán vườn cây theo hợp đồng, thu nhập gắn chặt hơn với sản lượng và chất lượng. Đơn vị cao su Phú Riềng chuyển đổi mô hình qua các thời kỳ và trở thành công ty thuộc ngành cao su nhà nước như ngày nay.
Thay đổi đáng kể với người dân là đất ở và đất sản xuất. Nhiều hộ công nhân được giao đất làm nhà, được nhận khoán, hoặc tự mua đất vườn để trồng cao su riêng bên cạnh công việc ở công ty. Ranh giới giữa “người của nông trường” và “dân địa phương” mờ dần. Nhiều gia đình có cả người làm công nhân, cả vườn nhà riêng, vừa nhận lương vừa bán mủ cho đại lý.
Dịch vụ xã hội trước đây do nông trường lo như nhà trẻ, trường học, trạm xá dần được chuyển cho chính quyền địa phương và ngành giáo dục, y tế quản lý. Những công trình này vẫn phục vụ người dân, nhưng không còn mang danh nghĩa riêng của đơn vị cao su. Đây là một phần của quá trình lớn hơn: nông trường thôi là một xã hội khép kín, trở thành một doanh nghiệp giữa một cộng đồng dân cư mở.
Người phụ nữ trong nông trường
Kể về thời nông trường mà không nhắc tới phụ nữ là thiếu một nửa câu chuyện. Trong lực lượng công nhân cạo mủ ở các nông trường miền Đông, phụ nữ chiếm một tỉ lệ đáng kể. Nhiều chị em vừa đi cạo từ khuya, vừa về lo cơm nước, con cái, chăm thêm mảnh vườn nhỏ quanh nhà. Đôi tay khéo và sự cần mẫn khiến không ít người trở thành thợ cạo giỏi, được đội cử đi dự hội thi tay nghề.
Ở khu tập thể, các bà mẹ thay nhau trông con cho nhau; nhà trẻ của đơn vị là chỗ dựa quan trọng để người mẹ yên tâm vào lô. Những năm thiếu thốn, chính phụ nữ là người xoay xở bữa ăn từ mấy luống rau, vài con gà nuôi sau dãy nhà. Khi điều kiện khá hơn, nhiều chị chuyển sang buôn bán nhỏ ở chợ, mở quán ăn sáng phục vụ thợ cạo, làm đại lý tạp hoá, góp phần tạo nên những trung tâm xã sầm uất sau này.
Câu chuyện của họ hiếm khi được ghi lại thành văn bản, dù đó là phần nền của đời sống vùng cao su. Ai quan tâm đến lịch sử địa phương có thể bắt đầu từ chính bà, chính mẹ mình: hỏi năm nào vào nông trường, ở đội nào, làm phần cây ở đâu, những năm khó khăn đã sống ra sao. Mỗi lời kể là một mảnh ghép mà không tài liệu chính thức nào thay được.
Những dấu vết thời nông trường còn đọc được hôm nay
Tên đội trong lời nói hằng ngày. Nhiều khu dân cư vẫn được gọi bằng số đội hoặc tên nông trường cũ, dù trên giấy tờ đã là ấp của một xã mới. Người làm giao hàng, thu mua ở Phú Riềng thường phải thuộc cả hai lớp tên.
Lô cây thẳng hàng, đánh số. Vườn của đơn vị nhà nước dễ nhận ra nhờ hàng cây đều, khoảng cách đồng nhất, cột mốc lô ở đầu đường. Vườn hộ gia đình thường nhỏ hơn và bố trí linh hoạt hơn.
Kiểu nhà dãy thấp mái tôn. Một số dãy nhà tập thể cũ vẫn còn, liền nhau, cửa đều, mái thấp; nhiều dãy đã được cải tạo nhưng khung cũ vẫn còn thấy.
Nếp sinh hoạt tập thể. Các hoạt động văn nghệ, thể thao, hội thi tay nghề, thăm hỏi hiếu hỉ theo đơn vị vẫn duy trì ở công ty và trong các khu dân cư gốc công nhân.
Ký ức của thế hệ khai hoang. Người lớn tuổi ở Phú Riềng còn nhớ những năm sốt rét, thiếu gạo, đi bộ vào lô từ khuya. Đây là nguồn tư liệu sống mà các gia đình nên ghi lại trước khi muộn.
Câu hỏi thường gặp
Nông trường cao su Phú Riềng thành lập năm nào?
Đơn vị cao su nhà nước ở Phú Riềng được lập trong những năm đầu sau 1975 trên nền đồn điền cũ. Mốc ngày tháng cụ thể và các lần đổi tên nên tra trong tài liệu lịch sử chính thức của công ty hoặc địa phương, vì trang không muốn nêu một con số chưa đối chiếu được.
Khu tập thể công nhân cao su ở Phú Riềng còn không?
Một số dãy nhà tập thể cũ vẫn còn, phần lớn đã được cải tạo hoặc thay bằng nhà riêng. Nhiều khu tập thể trước đây nay là khu dân cư bình thường thuộc các ấp của xã mới, người dân sở hữu nhà đất riêng.
Vì sao người Phú Riềng gọi nơi ở bằng số đội?
Vì thời nông trường, đội sản xuất vừa là đơn vị lao động vừa là cụm dân cư. Thói quen gọi theo đội vẫn còn dù tên hành chính đã đổi. Khi hỏi đường ở Phú Riềng, biết thêm tên đội cũ thường giúp tìm nhanh hơn.
Những ai đã đi khai hoang vùng cao su Phú Riềng sau 1975?
Có công nhân cũ của đồn điền, người từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung vào theo chương trình kinh tế mới, người từ các tỉnh phía Nam lên lập nghiệp và đồng bào dân tộc tại chỗ. Sự đa dạng ấy tạo nên cộng đồng nhiều vùng miền như hôm nay.
Con em công nhân cao su có được ưu tiên vào làm ở công ty không?
Chính sách tuyển dụng do từng doanh nghiệp quy định và có thể thay đổi theo thời gian. Người quan tâm nên hỏi trực tiếp bộ phận nhân sự của đơn vị cao su về điều kiện tuyển công nhân, đào tạo tay nghề và các chế độ hiện hành.
Có nơi nào lưu giữ tư liệu về thời nông trường không?
Một số tư liệu nằm ở công ty cao su, ở các cơ quan văn hoá, lưu trữ của tỉnh và trong các công trình lịch sử địa phương đã xuất bản. Nguồn quý nhất vẫn là ký ức người lớn tuổi; nhiều gia đình đã chủ động ghi âm, chép lại lời kể của ông bà.