Những gì còn rõ nhất của văn hoá truyền thống S'tiêng ở vùng Phú Riềng là cồng chiêng trong các dịp lễ, nghề đan gùi bằng tre, mây, nghề dệt vải trên khung dệt thủ công, cùng một số lễ nghi gắn với nông lịch như mừng lúa mới. Chúng không còn hiện diện hằng ngày như xưa, mà sống chủ yếu trong tay người lớn tuổi, trong các ngày hội và các lớp truyền dạy.
Hiểu đúng các thứ này cần tránh hai cách nhìn lệch: coi chúng như đồ trưng bày cho khách du lịch, hoặc coi là thứ cổ xưa đã mất. Thực tế ở giữa: một bộ chiêng vẫn được gìn giữ trong gia đình, một chiếc gùi vẫn được đeo ra rẫy điều, chỉ là người biết làm ngày một ít.
Bài viết tả từng thành tố, ai đang giữ chúng, và gợi ý cách người ngoài tiếp cận cho đúng mực: xem, nghe, mua hay học.
Cồng chiêng: âm thanh của những dịp lớn
Cồng chiêng là nhạc cụ quan trọng nhất của người S'tiêng, cũng như của nhiều dân tộc nói tiếng Môn – Khmer ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Một bộ chiêng gồm nhiều chiếc to nhỏ, mỗi chiếc một âm, do nhiều người cùng đánh theo bài bản. Chiêng không dùng để giải trí thường ngày mà vang lên trong các dịp lớn: lễ mừng lúa mới, cưới hỏi, làm nhà mới, tang lễ, tiếp khách quý.
Với gia đình S'tiêng truyền thống, bộ chiêng là tài sản quý, có khi được đổi bằng trâu bò, lúa gạo, truyền từ đời này sang đời khác. Nhiều gia đình đã bán chiêng trong những năm khó khăn; những bộ còn lại thường được cất cẩn thận và chỉ mang ra khi có lễ. Đó là lý do khách lạ hiếm khi thấy chiêng nếu không đúng dịp.
Cần lưu ý một điểm hay bị nói nhầm: Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh năm 2005 gồm năm tỉnh Tây Nguyên thời điểm đó là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Cồng chiêng S'tiêng ở Bình Phước cũ cùng một dòng văn hoá, nhưng không nằm trong hồ sơ ấy. Nói đúng điều này không làm giảm giá trị của chiêng S'tiêng, chỉ giúp thông tin chính xác.
Đan gùi, đan lát: nghề của đàn ông
Chiếc gùi đeo sau lưng là vật dụng gắn liền với đời sống rẫy rừng: gùi lúa, gùi bắp, gùi củi, gùi nước, gùi hạt điều. Người S'tiêng đan gùi bằng tre, nứa, mây, với nhiều kiểu cho từng việc: gùi to đan thưa để chở củi, gùi nhỏ đan dày có nắp để đựng đồ quý, gùi có hoa văn để đi lễ, đi chơi. Ngoài gùi còn có nia, mẹt, giỏ, ống tên, đồ bẫy.
Theo nếp truyền thống, đan lát chủ yếu là việc của đàn ông, và một người đàn ông đan giỏi được cộng đồng nể trọng. Nguyên liệu tre, mây trước đây lấy trong rừng; nay rừng ít đi, nhiều nơi phải mua hoặc đi xa mới có. Việc chẻ nan, vót nan, phơi nan, nhuộm màu bằng vỏ cây hay khói bếp mất nhiều thời gian hơn bản thân việc đan.
Hiện nay gùi nhựa, bao tải, xe máy thay cho gùi tre trong nhiều việc. Gùi tre vẫn được dùng khi nhặt điều trong vườn, khi đi rẫy xa, và được làm như sản phẩm thủ công trong các chương trình hỗ trợ nghề. Ở các ngày hội văn hoá của địa phương, thi đan gùi là một nội dung quen thuộc.
Dệt vải trên khung dệt thủ công: nghề của phụ nữ
Phụ nữ S'tiêng dệt vải trên khung dệt đeo lưng hoặc khung dệt nằm, tạo ra váy, khố, tấm choàng, chăn đắp với nền thường là màu chàm hoặc đen, điểm các sọc và hoa văn đỏ, trắng, vàng. Hoa văn mang hình ảnh quen thuộc trong đời sống như hình thoi, răng cưa, đường gấp khúc, có người giải thích là núi, sông, dấu chân thú, nhưng ý nghĩa cụ thể từng mẫu nên nghe từ chính người dệt.
Xưa sợi được kéo từ bông trồng trên rẫy và nhuộm bằng lá, vỏ, rễ cây. Ngày nay phần lớn dùng sợi công nghiệp mua ở chợ, giúp tiết kiệm công nhưng màu sắc và độ bền khác trước. Một tấm vải dệt tay có thể mất nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần, tuỳ khổ và độ cầu kỳ của hoa văn.
Trang phục truyền thống nay chủ yếu được mặc vào dịp lễ, ngày hội, đám cưới, biểu diễn văn nghệ. Số phụ nữ còn dệt được không nhiều, phần lớn là người trung niên và cao tuổi. Một số lớp truyền dạy, tổ hợp tác dệt được hỗ trợ ở vùng đồng bào Bình Phước cũ nhằm giữ nghề và tạo thêm thu nhập.
Với người mua, phân biệt vải dệt tay và vải in công nghiệp không khó nếu để ý: vải dệt tay có mặt trái thấy rõ sợi chạy của hoa văn, mép vải không thật thẳng, hoa văn hơi lệch nhịp ở vài chỗ; vải in thì mặt trái nhạt màu hoặc trắng, hoa văn đều tăm tắp. Một tấm vải dệt tay đáng giá không phải vì hiếm, mà vì nó chứa hàng chục giờ công và một mẫu hoa văn được truyền qua nhiều đời người phụ nữ trong một dòng họ.
Lễ nghi theo nông lịch và vòng đời
Các lễ nghi của người S'tiêng gắn với hai trục: nông lịch rẫy và vòng đời con người. Không phải sóc nào cũng còn giữ đủ, và nhiều lễ đã được giản lược. Những lễ thường được nhắc tới gồm:
- Lễ mừng lúa mới: làm sau mùa thu hoạch lúa rẫy, khoảng cuối mùa mưa sang đầu mùa khô, để tạ ơn mùa màng và cầu mùa sau. Đây là dịp có cồng chiêng, rượu cần, các món ăn từ gạo mới, và là lễ hay được phục dựng nhất trong các ngày hội văn hoá.
- Lễ cúng bến nước: gắn với nguồn nước sinh hoạt của sóc, cầu nước trong, người khoẻ. Khi nhiều nơi đã dùng giếng khoan, nước máy, lễ này thưa dần.
- Lễ làm nhà mới: khi dựng nhà, cả họ góp công, góp rượu, có cúng và ăn uống chung. Nay dù xây nhà gạch, nhiều gia đình vẫn giữ bữa tiệc mừng nhà mới với họ hàng.
- Cưới hỏi và tang lễ: có các nghi thức riêng của dân tộc, đan xen với nghi thức theo tôn giáo mà gia đình theo. Chi tiết khác nhau giữa các nhóm và các gia đình.
Người ngoài muốn dự một lễ của đồng bào nên được mời hoặc đi theo lời giới thiệu của người trong cộng đồng, tôn trọng các phần nghi thức chỉ dành cho người trong họ, và không coi lễ là chương trình biểu diễn.
Ai đang giữ và giữ bằng cách nào
Người giữ văn hoá truyền thống nhiều nhất là những người cao tuổi: các nghệ nhân biết đánh chiêng, biết đan, biết dệt, biết hát kể. Sau họ là một lớp trung niên học lại nghề khi được mời dạy hoặc khi tham gia các đội văn nghệ của xã. Thanh thiếu niên tiếp cận chủ yếu qua các lớp truyền dạy cồng chiêng, qua trường học và các ngày hội.
Chính quyền và ngành văn hoá ở Bình Phước cũ đã tổ chức nhiều ngày hội văn hoá, thể thao đồng bào dân tộc thiểu số, có thi cồng chiêng, đan gùi, dệt vải, ẩm thực, trang phục. Những dịp này giúp người làm nghề có chỗ trình diễn và người trẻ có động lực học. Sau khi về tỉnh Đồng Nai, các hoạt động như vậy có thể được tổ chức theo cách mới; người quan tâm nên theo dõi thông báo của xã và ngành văn hoá tỉnh.
Điều quyết định vẫn là đời sống kinh tế. Khi gùi đan tay có người mua với giá đáng công, khi tấm vải dệt có chỗ đứng, khi đội chiêng được mời diễn trong các sự kiện, người trẻ mới thấy nghề có tương lai. Ngược lại, nếu chỉ giữ trên giấy, các nghề này sẽ tiếp tục thưa dần.
Người ngoài nên tiếp cận thế nào cho đúng mực
Muốn nghe cồng chiêng. Cách tốt nhất là theo dõi các ngày hội văn hoá, lễ kỷ niệm của xã, tỉnh, hoặc hỏi đội văn nghệ xã về các buổi biểu diễn. Không nên đề nghị một gia đình mang chiêng ra đánh chỉ để khách xem, vì với nhiều nhà, chiêng gắn với lễ nghi.
Muốn mua gùi, vải dệt. Mua trực tiếp từ người làm hoặc tổ hợp tác, trả giá vừa phải, hỏi người làm mất bao lâu để làm ra món đồ. Cẩn thận với hàng công nghiệp in hoa văn giả thổ cẩm bán như hàng dệt tay; hàng thật thường có độ không đều nhẹ của tay người.
Muốn chụp ảnh, quay phim. Xin phép trước, nhất là khi chụp người già, trẻ em và nghi lễ. Nếu dùng ảnh cho mục đích thương mại, nên có thoả thuận rõ ràng và chia sẻ lại cho người được chụp.
Muốn viết, kể về văn hoá S'tiêng. Ghi rõ nguồn: nghe từ ai, ở sóc nào. Phân biệt điều được nghe kể với điều đã được nghiên cứu xác nhận. Tránh khái quát cả một dân tộc từ một gia đình, một lần đi.
Truyện kể, lời hát và tri thức rừng
Ngoài những thứ nhìn thấy được như chiêng, gùi, vải, văn hoá S'tiêng còn có một kho truyền miệng: truyện cổ về nguồn gốc dân tộc, về lúa, về các loài vật; những bài hát đối đáp trong lễ cưới, lời ru con, lời khấn trong lễ nghi. Phần lớn chưa được ghi chép đầy đủ và chỉ còn trong trí nhớ người già. Một số công trình sưu tầm văn học dân gian của Bình Phước cũ đã ghi lại một phần, có thể tìm ở thư viện, bảo tàng tỉnh.
Một mảng khác ít được chú ý là tri thức về rừng và đất: biết cây nào ăn được, cây nào làm thuốc, lúc nào măng mọc, lúc nào ong làm tổ, đất nào hợp trỉa lúa, cách đọc trời để đoán mưa. Những hiểu biết ấy từng giúp cả cộng đồng sống được trên vùng đất này hàng trăm năm. Khi rừng thu hẹp và lối sống đổi khác, tri thức này mất nhanh hơn cả nghề thủ công, vì không có sản phẩm nào để bán.
Người trẻ trong cộng đồng có điều kiện hơn bao giờ hết để ghi lại kho này: một chiếc điện thoại đủ để thu âm lời kể của ông bà, quay lại cách đan một kiểu gùi, chép lại lời một bài hát. Những bản ghi như vậy, nếu được lưu giữ và chia sẻ đúng cách, có giá trị lâu dài cho cả gia đình lẫn những người nghiên cứu văn hoá sau này.
Câu hỏi thường gặp
Cồng chiêng S'tiêng có được UNESCO công nhận không?
Hồ sơ Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh năm 2005 gồm năm tỉnh Tây Nguyên lúc đó, không gồm Bình Phước cũ. Cồng chiêng S'tiêng cùng dòng văn hoá ấy nhưng không nằm trong hồ sơ, dù vẫn là di sản quý của địa phương.
Ở Phú Riềng có thể mua gùi, vải dệt S'tiêng ở đâu?
Không có chợ chuyên bán hàng thủ công. Cách thực tế là hỏi qua ủy ban xã, hội phụ nữ, hội nông dân hoặc người quen trong cộng đồng để tìm người làm, hoặc mua tại gian trưng bày trong các ngày hội văn hoá của địa phương.
Lễ mừng lúa mới thường tổ chức vào lúc nào?
Theo nếp truyền thống, lễ làm sau khi thu hoạch lúa rẫy, khoảng cuối mùa mưa đến đầu mùa khô, tức các tháng cuối năm dương lịch. Ngày cụ thể do từng gia đình, từng sóc chọn, còn ngày hội do chính quyền tổ chức thì theo kế hoạch riêng.
Người không phải dân tộc S'tiêng có học đánh chiêng được không?
Được, nếu có người sẵn lòng dạy. Một số lớp truyền dạy chủ yếu dành cho thanh thiếu niên trong cộng đồng; người ngoài muốn học nên hỏi nghệ nhân hoặc đội văn nghệ xã, và hiểu rằng có những bài chiêng gắn với nghi lễ cần được tôn trọng.
Rượu cần có phải món riêng của người S'tiêng không?
Không riêng. Rượu cần phổ biến ở nhiều dân tộc Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Với người S'tiêng, rượu cần gắn với lễ nghi và tiếp khách, có cách uống, cách mời riêng; khách nên làm theo người chủ trì, uống vừa sức và không ép người khác.
Hoa văn trên vải dệt S'tiêng có ý nghĩa gì?
Hoa văn thường là hình học như hình thoi, răng cưa, đường gấp khúc, được giải thích liên quan tới thiên nhiên và đời sống. Ý nghĩa cụ thể khác nhau giữa các nhóm và người dệt, nên cách hiểu đúng nhất là hỏi chính người làm ra tấm vải.