Cư dân vùng Phú Riềng hôm nay hình thành qua nhiều lớp người đến trong khoảng một thế kỷ. Lớp sâu nhất là đồng bào S'tiêng và các dân tộc bản địa. Lớp thứ hai là phu cao su được mộ từ đồng bằng Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ vào đồn điền thời Pháp. Lớp thứ ba là những người đi xây dựng vùng kinh tế mới và về các nông trường sau năm 1975. Lớp thứ tư là dòng di dân tự do từ khắp các miền khi cao su, điều, tiêu phát triển mạnh từ thập niên 1990.
Vì vậy hỏi một người Phú Riềng "quê ở đâu" thường nhận được câu trả lời hai tầng: quê gốc ở một tỉnh nào đó ngoài Bắc, miền Trung, và quê sinh ra ở một xã, một đội nông trường của Phú Riềng. Bài này kể lại từng lớp người ấy và gợi ý cách tìm hiểu gốc gác gia đình.
Lớp đầu tiên: đồng bào bản địa trên vùng rừng đất đỏ
Trước khi có đồn điền, vùng đất Phú Riềng là rừng và rẫy của đồng bào S'tiêng, một dân tộc nói ngôn ngữ thuộc nhóm Môn – Khmer, sống lâu đời ở vùng giáp ranh giữa miền Đông Nam Bộ, Nam Tây Nguyên và Campuchia. Người S'tiêng sống thành sóc, làm rẫy luân canh, săn bắt, hái lượm, có luật tục và đời sống văn hoá riêng, với cồng chiêng, nhà dài, các lễ cúng theo mùa rẫy.
Khi đồn điền được lập, không gian sống của đồng bào bị thu hẹp mạnh. Nhiều sóc dời sâu vào rừng hoặc sang các vùng lân cận. Một số người tham gia lao động ở đồn điền, nhưng phần đông lực lượng phu được mộ từ nơi khác. Đến nay, đồng bào S'tiêng vẫn sinh sống ở vùng Phú Riềng và các vùng lân cận, xen cư với người Kinh và các dân tộc khác.
Khi kể lịch sử dân cư Phú Riềng, lớp người này thường bị nhắc qua loa vì tư liệu chủ yếu viết về đồn điền và công nhân. Nhưng họ là chủ nhân đầu tiên của vùng đất, và dấu vết của họ còn trong địa danh, trong kiến thức về rừng, về đất mà người đến sau đã học hỏi.
Lớp thứ hai: phu công-tra từ đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Từ giữa thập niên 1920, công ty Michelin mộ hàng nghìn phu từ các tỉnh đông dân, nghèo ruộng của đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ vào khai phá đồn điền. Theo các tư liệu, nguồn phu chủ yếu đến từ các vùng như Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh theo cách gọi tỉnh thời ấy. Họ đi theo hợp đồng nhiều năm, nhiều người không bao giờ trở về.
Những người ở lại sau khi hết hợp đồng, vì không có tiền về hoặc vì đã lập gia đình ở đồn điền, trở thành lớp cư dân định cư đầu tiên của vùng Phú Riềng. Họ mang theo giọng nói, món ăn, tục lệ làng quê miền Bắc, miền Trung, và truyền lại cho con cháu. Nhiều gia đình ở Phú Riềng hôm nay đã là đời thứ ba, thứ tư của những người phu ấy.
Dấu vết của lớp người này còn trong cách tổ chức đám cưới, đám giỗ, trong giọng nói pha giữa Bắc và Nam của nhiều gia đình lâu đời, và trong những câu chuyện về "ông nội đi công-tra" được kể lại trong bữa cơm. Đây là lớp tạo nên bản sắc đặc biệt của vùng: một cộng đồng gốc Bắc, gốc Trung giữa lòng miền Đông Nam Bộ.
Giữa hai lớp: những người đến trong thời chiến
Trong giai đoạn 1945–1975, dân cư vùng Phú Riềng biến động mạnh theo chiến sự. Có người rời đi vào chiến khu, có người dời về các đô thị để tránh giao tranh, có người từ nơi khác đến làm công nhân cho đồn điền khi công ty cần bổ sung lao động. Sau năm 1954, trong dòng người di cư vào miền Nam, cũng có những gia đình đến các vùng đồn điền miền Đông tìm việc.
Đây là giai đoạn có ít tư liệu thống kê đáng tin về dân cư từng vùng nhỏ. Hiểu biết chủ yếu đến từ ký ức của các gia đình: ai đến năm nào, vì sao đến, ở lại hay đi. Mỗi câu chuyện là một mảnh ghép, và chỉ khi gom nhiều mảnh lại mới thấy được bức tranh chung.
Với người làm lịch sử gia đình, giai đoạn này thường là chỗ đứt gãy: giấy tờ thất lạc, người thân ly tán, tên đơn vị hành chính thay đổi liên tục. Ghi lại lời kể của người cao tuổi càng sớm càng tốt là cách duy nhất để lấp những khoảng trống này.
Khi nghe kể, nên hỏi những câu cụ thể thay vì câu chung chung: đến năm nào, đi bằng phương tiện gì, ở làng nào của đồn điền, ai là người dẫn đường, làm công việc gì đầu tiên. Câu hỏi cụ thể giúp người cao tuổi nhớ lại chi tiết, và chi tiết mới là thứ làm cho câu chuyện có giá trị tư liệu.
Lớp thứ ba: kinh tế mới và nông trường sau 1975
Sau năm 1975, Nhà nước tổ chức đưa dân đi xây dựng các vùng kinh tế mới ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Vùng đất đỏ thuộc tỉnh Sông Bé, trong đó có Phú Riềng, đón nhiều đợt người từ Sài Gòn, từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung. Cùng lúc, nông trường cao su quốc doanh trên đất đồn điền cũ cần lao động để phục hồi và mở rộng vườn cây, tuyển thêm công nhân từ nhiều nơi.
Những năm đầu, cuộc sống của người kinh tế mới rất vất vả: đất mới khai hoang, nhà tạm, đường đất đỏ lầy lội mùa mưa, sốt rét vẫn còn, thiếu điện, thiếu nước sạch, thiếu trường học. Nhiều gia đình không trụ được đã quay về, nhưng những người ở lại đã dựng nên các ấp, các xã mà nay là một phần của vùng Phú Riềng.
Lớp người này đa dạng hơn hẳn lớp phu công-tra về quê gốc: có người gốc thành thị, có người gốc nông thôn miền Bắc, có người từ miền Trung. Sự pha trộn ấy làm cho văn hoá vùng Phú Riềng không còn thuần một gốc nào, mà là một hỗn hợp của nhiều vùng miền.
Lớp thứ tư: di dân tự do theo cây cao su, điều, tiêu
Từ thập niên 1990, khi giá cao su, điều, tiêu có những giai đoạn thuận lợi và tỉnh Bình Phước được tái lập, vùng đất đỏ thu hút dòng di dân tự do rất lớn. Người từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung, cả đồng bào các dân tộc thiểu số phía bắc như Tày, Nùng, Dao, đến mua đất, khai hoang, trồng cây công nghiệp. Nhiều người đến theo họ hàng, đồng hương đã đến trước, tạo thành những xóm đồng hương trong các xã.
Dòng di dân này làm dân số vùng Phú Riềng tăng nhanh, các ấp mới mọc lên, nhu cầu trường học, trạm y tế, đường sá tăng mạnh. Đây là một trong những lý do dẫn đến việc chia tách huyện và lập thêm xã ở các giai đoạn sau. Cũng từ đây, vùng Phú Riềng có thêm sự đa dạng dân tộc, với những phong tục, lễ hội của đồng bào phía bắc xuất hiện giữa vùng đất đỏ miền Đông.
Những năm gần đây, dòng người lại có chiều ngược lại: nhiều người trẻ rời vùng Phú Riềng đi làm ở các khu công nghiệp phía nam, ở TP.HCM, Bình Dương cũ, Biên Hoà. Cùng lúc, một số người từ nơi khác đến làm việc trong các doanh nghiệp, cơ sở chế biến trên địa bàn. Bức tranh dân cư vẫn tiếp tục chuyển động.
Chiều di chuyển mới này đặt ra câu hỏi quen thuộc ở nhiều vùng nông thôn: ai sẽ làm vườn khi người trẻ đi xa, và những ngôi nhà, mảnh vườn của thế hệ trước sẽ ra sao. Một phần câu trả lời nằm ở việc cơ giới hoá, đổi cây trồng, thuê lao động thời vụ; một phần nằm ở chỗ người trẻ trở về khi có cơ hội làm ăn tại chỗ. Lịch sử di dân của Phú Riềng vì vậy chưa khép lại, mà đang bước sang một chương mới.
Bốn lớp cư dân tóm tắt
Bảng dưới gom bốn lớp người chính hình thành nên cư dân vùng Phú Riềng. Mốc thời gian là ước lượng theo giai đoạn, không phải ngày tháng chính xác.
| Lớp | Thời gian đến | Gốc | Dấu vết còn lại |
|---|---|---|---|
| Đồng bào bản địa | từ rất lâu đời | S'tiêng và các dân tộc bản địa | địa danh như Bù Nho, kiến thức về rừng, văn hoá cồng chiêng |
| Phu công-tra | từ giữa thập niên 1920 | đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ | cộng đồng gốc Bắc, gốc Trung, cách tổ chức làng công nhân |
| Kinh tế mới, công nhân nông trường | sau 1975 | TP.HCM, miền Bắc, miền Trung | các ấp, xã lập sau 1975, hệ đội nông trường |
| Di dân tự do | từ thập niên 1990 | nhiều tỉnh, cả đồng bào dân tộc phía bắc | xóm đồng hương, đa dạng dân tộc, dân số tăng nhanh |
Mỗi lớp người không thay thế lớp trước mà chồng lên, đan vào nhau qua hôn nhân, làm ăn, láng giềng. Một gia đình ở Phú Riềng hôm nay có thể mang trong mình cả hai, ba lớp: ông nội đi công-tra, bà ngoại theo đoàn kinh tế mới, con dâu từ một tỉnh miền Trung đến sau năm 2000.
Tìm hiểu gốc gác gia đình ở Phú Riềng: bắt đầu từ đâu
Với nhiều gia đình ở Phú Riềng, câu hỏi "quê gốc ở đâu, ông bà đến đây từ bao giờ" chưa có câu trả lời đầy đủ. Một vài bước đơn giản để bắt đầu:
- Hỏi người cao tuổi nhất trong gia đình: tên ông bà, cụ, quê gốc ở làng, xã, huyện, tỉnh nào, đến Phú Riềng năm nào, đi theo hình thức gì.
- Gom giấy tờ cũ trong nhà: giấy khai sinh, giấy chứng nhận, sổ hộ khẩu cũ, thư từ, ảnh. Ghi lại thông tin, chụp ảnh lưu giữ, không làm hỏng bản gốc.
- Lưu ý tên đơn vị hành chính thay đổi: tên tỉnh, huyện, xã quê gốc trên giấy tờ cũ có thể đã đổi nhiều lần, nhất là sau sắp xếp năm 2025. Cần tra cứu tên mới tương ứng trước khi tìm về.
- Liên hệ họ hàng ở quê gốc nếu còn: hỏi gia phả, nhà thờ họ, mộ phần tổ tiên. Nhiều dòng họ ở miền Bắc, miền Trung có gia phả ghi cả nhánh con cháu đi Nam.
- Ghi lại tất cả thành một bản tóm tắt có tên người, năm, nơi chốn và nguồn thông tin, để con cháu sau này có thể tiếp tục.
Những bản ghi chép gia đình như vậy, nếu nhiều nhà cùng làm, sẽ tạo thành nguồn tư liệu quý cho lịch sử dân cư vùng Phú Riềng, thứ mà các công trình chính thức khó có thể ghi lại đầy đủ.
Câu hỏi thường gặp
Người Phú Riềng phần đông có gốc từ đâu?
Phần đông cư dân lâu đời có gốc từ đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, con cháu của phu cao su thời Pháp và người đi kinh tế mới sau 1975. Ngoài ra có đồng bào S'tiêng bản địa và người từ nhiều tỉnh khác, cả đồng bào dân tộc phía bắc đến từ thập niên 1990.
Người S'tiêng có còn sinh sống ở Phú Riềng không?
Có. Đồng bào S'tiêng vẫn sinh sống ở vùng Phú Riềng và các vùng lân cận, xen cư với người Kinh và các dân tộc khác. Họ là chủ nhân đầu tiên của vùng đất, và dấu vết văn hoá còn trong địa danh và đời sống cộng đồng.
Vì sao ở Phú Riềng nhiều người nói giọng Bắc?
Vì lớp cư dân đầu tiên của đồn điền là phu được mộ từ đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ từ thập niên 1920, và sau 1975 lại có nhiều người miền Bắc đến theo các đợt kinh tế mới. Giọng nói được truyền qua nhiều thế hệ, pha dần với giọng Nam.
Đồng bào dân tộc phía bắc đến Phú Riềng từ khi nào?
Chủ yếu từ thập niên 1990 trở đi, trong dòng di dân tự do vào vùng đất đỏ miền Đông khi cây công nghiệp phát triển. Nhiều người đến theo họ hàng, đồng hương, tạo thành các xóm đồng hương trong các xã.
Muốn tìm quê gốc của ông bà đi công-tra thì làm thế nào?
Bắt đầu từ lời kể của người cao tuổi và giấy tờ cũ trong nhà, ghi tên làng, xã quê gốc. Sau đó tra tên đơn vị hành chính hiện nay tương ứng, liên hệ họ hàng hoặc chính quyền xã ở quê để hỏi gia phả, nhà thờ họ.